Chủ Nhật, 16 tháng 2, 2014

Nhiệm vụ của người môn đệ


CN V TN1.- 
Ngữ cảnh
Bản văn đọc hôm nay nằm trong Bài Giảng trên núi (ch. 5–7) và nói đến sứ mạng của người môn đệ “trong thế gian”. Bản văn được trực tiếp kết nối với các “Mối Phúc” (5,3-12). Các câu 11-12 nói về bách hại chỉ là những câu nhắc lại c. 10 và chuyển tiếp. Nhưng cụm từ “phúc thay anh em” cho phép ta móc với từ “anh em” ở c. 13. Những người nhận bản văn này không phải là mộthạng tín hữu đặc biệt, nhưng là các môn đệ đã được nói đến ở đầu chương (5,1) và được ngỏ lời trực tiếp ở cc. 11-12. Cộng đoàn Kitô hữu được nhắc nhớ đến bổn phận truyền giáo.

2.- Bố cục
Bản văn có thể chia làm hai phần:
1) Môn đệ Đức Giêsu là “muối cho đời” (5,13);
2) Môn đệ Đức Giêsu là “ánh sáng cho trần gian” (5,14-16).

3.- Vài điểm chú giải
- anh em là (13): Đức Giêsu nói trực tiếp với các môn đệ Người, để xác định sứ mạng của họ. Đây không phải là mộtgợi ý về mộtchiều hướng nên theo, nhưng là một khẳng định về tư cách, ơn gọi. Cũng có thể thấy cụm từ này có liên với Xh 19,6 (“Còn các ngươi, các ngươi sẽ là mộtvương quốc tư tế cho Ta và mộtdân tộc thánh”). Như Đức Chúa (Yhwh) đã chọn dân Ngài giữa các dân nước và xác định tư cách của họ, Đức Giêsu cũng đã chọn các môn đệ trong loài người và bây giờ xác định sứ mạng cho họ.
- muối cho đời… ánh sáng cho trần gian (13.14): dịch sát là “muối của đất ()” và “ánh sáng của thế gian/ trần gian (kosmos)”. Vì “đất” được dùng song song với “trần gian”, nó không có nghĩa là đất bùn, đất bột, đất thịt, nhưng là “trái đất”, tương tự với “trần gian”, “thế gian”. Cả hai từ “đất” và “trần gian” ở đây đều có nghĩa là “toàn thể nhân loại”, tức có mộttầm mức phổ quát.
- để họ thấy những công việc tốt đẹp anh em làm (16): Dường như câu này mâu thuẫn với Mt 6,1-18 (nhất là với cc.1-2.5.16)? Thật ra, các bản văn nêu ra hai lý do khác nhau: ở đây lý do là vinh quang của Cha trên trời; trong 6,1-18, lý do là việc chúc tụng ngợi khen cá nhân mà đương sự đi tìm để thỏa mãn tính khoe khoang của mình (x. 6,2-5). Hai bản văn cũng nói đến hai cách thức xử sự khác nhau: ở đây, người môn đệ chỉ đơn giản tỏ mình ra là môn đệ của Đức Kitô, là Kitô hữu; còn ở 6,1-18, Đức Giêsu kết án sự khoe khoang người ta tỏ ra để lôi kéo sự chú ý của người khác.
4.- Ý nghĩa của bản văn
Mối Phúc cuối cùng liên hệ đến những người bị bách hại vì sống công chính (5,10). Chính Mối Phúc này được Đức Giêsu lấy lại mà ngỏ trực tiếp với các môn đệ, là những người đang ở ngay bên Người, và với đám đông đang nghe Người (5,1): “Phúc thay anh em khi vì Thầy mà bị người ta sỉ vả, bách hại và vu khống đủ điều xấu xa” (5,11). Đức Giêsu đã loan báo  cho các môn đệ biết ngay từ đầu phản ứng tiêu cực của môi trường, nếu họ sống trung thành với Người, nếu họ tìm sự công chính và quy hướng lối sống của họ theo chương trình của Người. Họ phải trả lời thế nào? Ai cũng coi trọng việc mình được chấp nhận và nhìn nhận. Phải chăng các môn đệ phải thích nghi với môi trường của họ, để được môi trường chấp nhận? Phải chăng họ phải giới hạn quan hệ với mộtvòng những người có cùng những ý tưởng như nhau, để khỏi gây mâu thuẫn? Cho họ cũng như cho tất cả các Kitô hữu, hôm nay còn đang thường xuyên bị cám dỗ từ chối chân tính của mình và tìm thích nghi, hoặc bị cám dỗ rút lui vào đàng sau cánh cửa, Đức Giêsu giao cho nhiệm vụ làm muối cho đời và ánh sáng cho trần gian. Nhờ đó, cho dù họ có bị sỉ nhục (5,11), họ vẫn đưa được người ta đến chỗ tôn vinh Chúa Cha trên trời (5,16).
* Môn đệ Đức Giêsu là “muối cho đời” (13)
Khi khẳng định rằng các môn đệ là “muối cho đời”, Đức Giêsu cho hiểu các môn đệ có sứ mạng truyền giáo. Do ơn gọi, họ phải đóng mộtchức năng đối với những người khác tương tự muối đối với các thức ăn (giữ cho khỏi hư thối, làm cho thêm hương vị). Không có muối, thức ăn bị hư thối; không có người Kitô hữu, xã hội thiếu mất mộtsức mạnh thiêng liêng và luân lý có khả năng gìn giữ xã hội khỏi những sự dữ đang muốn xâm nhập vào. Do đó, sự hiện diện của người Kitô hữu không phải là không đáng kể hoặc có hay không cũng vậy. Giống như muối, sự hiện diện của Kitô hữu không thể thay thế. Không ai có thể đứng vào vị trí của họ nếu họ bị suy yếu đi. Tác giả lưu ý và răn đe các Kitô hữu coi chừng kẻo mình trở nên nhạt nhẽo đi. Họ cũng sẽ như muối, khi đã nhạt thì chỉ còn đáng loại bỏ (x. 5,22.29).
* Môn đệ Đức Giêsu là “ánh sáng cho trần gian” (14-16)
            Hình ảnh ánh sáng (cc. 14-15) là hình ảnh của Kinh Thánh (x. Xh 3,2; Is 60,19; Is42,6). Tác giả Gioan gán cho Đức Giêsu chức năng mà ở đây Mt gán cho các môn đệ. Bóng tối, đêm tối, trong Cựu Ước cũng như Tân Ước, là biểu tượng của các thế lực sự ác (x. Mt 8,12; Lc 22,53). Môn đệ Đức Kitô được thông dự vào sự sáng của Thiên Chúa, như Môsê khi xuống núi có mang trên mặt phản ánh vẻ uy hùng của Thiên Chúa (Xh34,35). Không thể có chuyện Kitô hữu đi qua mà không ai biết; không ai có thể dửng dưng trước ánh huy hoàng thiêng liêng mà Kitô hữu đang tỏa ra. Giống như ánh sáng, Kitô hữu đi vào những nơi sâu thẳm nhất và kín ẩn nhất của trái tim con người và đưa ra ánh sáng những lỗ hổng mà ta gặp trong đó.
            Lời khẳng định được minh giải bằng hai hình ảnh (c. 15). “Thành xây trên núi” có thể gợi ý đến Giêrusalem thiên sai, là điểm thu hút tất cả các dân tộc (x. Is 2,2-5; 60,1-2.19-20). Các Kitô hữu tháp vào trong  thế gian như mộtnguồn ánh sáng từ đó mọi người có thể nhận được sự nâng đỡ và định hướng. “Thành xây trên núi” nêu bật  tính khả thị (thấy được), điểm quy chiếu là chính tư cách của Họi Thánh Đức Kitô cho tất cả mọi người. Hình ảnh này được nhắc lại bằng hình ảnh cái đèn đặt trên đế. Căn phòng trong đó gia đình và bạn bè quy tụ lại trở nên sinh động nhờ ánh sáng của đèn. Hai hình ảnh này cũng có thể được áp dụng cho từng người môn đệ. Do ơn gọi, người môn đệ phải thông chia ánh sáng cho người khác. Họ không được thiếu ánh sáng, và càng không được thiếu trách nhiệm vì không tạo được mộtảnh hưởng tốt nào trong cộng đoàn. Ánh sáng đây không phải là ánh sáng của các lời nói, cũng chẳng phải là ánh sáng  của chân lý lý thuyết, nhưng là ánh sáng của “các việc tốt”, như Đức Giêsu đã đề cập đến (4,23-25) và đã làm (5,3-11) và sẽ còn nhắc đến (7,23; 25,31-46) trong các diễn từ của Người.
Khi đó người ta nhận ra rằng những ân huệ người môn đệ đang có phát xuất từ Thiên Chúa; họ sẽ chúc tụng ngợi khen Ngài. Điều này không có nghĩa là Thiên Chúa đòi hỏi con người hành động để tán dương Ngài, khi mà ta thấy là hoạt động cứu độ của Đức Kitô chứng tỏ rằng mọi sự là nhắm mưu ích cho những con cái Thiên Chúa “tuyển chọn” (x. Mt 5,44-48).
+ Kết luận
            Từ bản chất của nhiệm vụ được ký thác cho họ, các môn đệ phải là như ánh sáng và muối cho người khác. Bởi vì nhiệm vụ của họ là thúc bách và lôi cuốn, họ phải ở trước mặt người ta, chứ không tránh né. Bởi vì bổn phận của họ là đưa đến mộtcái hoàn toàn mới, họ phải duy trì chân tính của họ, chứ không được tự đồng hóa với môi trường của họ. Chính các “việc tốt” giúp cho môn đệ sống đúng tư cách muối và ánh sáng.
Đời sống của các môn đệ đi theo các huấn thị của Đức Giêsu được coi như là mộtnhiệm vụ lớn. Không ai có thể thay thế họ được; họ phải chịu trách nhiệm về sự kiện trần gian nhận được hương vị và trở thành chan hòa ánh sáng. Xuyên qua đời sống họ, họ phải bày tỏ cách thức hiện hữu của Thiên Chúa, họ phải truyền thông niềm vui của các đứa con với Chúa Cha và chinh phục loài người về cho gia đình Ngài.

5.- Gợi ý suy niệm
1. Muối tăng thêm hương vị; muối thấm vào thực phẩm để giữ cho khỏi hư thối. Muối hòa tan ra, và được phân phối trong tất cả khối lương thực. Muối có mặt khắp nơi trong khối lượng thực, nhưng muối vẫn là muối, thì mới giữ được giá trị và tính hữu hiệu của mình. Giống như muối, các môn đệ Đức Giêsu phải hiện diện trong môi trường và liên kết với môi trường. Nhưng họ phải cứ là muối, phải bảo toàn được cách cách thức sống của Cha họ (5,48). Muối không phải là mộtviên ngọc, mộtnén bạc phải được cất giữ hoặc đưa ra mà làm cho sinh lãi, nhưng là mộtchất gia vị. Nó sinh tác dụng khi nó chấp nhận “tự hủy” đi, hòa tan vào thực phẩm. Kitô hữu là muối cho đời, bởi vì người ấy không được kêu gọi đi vào mộtcuộc sống tách biệt, xa rời những người khác, nhưng bởi vì người ấy biết tan biến mình đi trong đại gia đình nhân loại để hỗ trợ bất cứ ai cần. Hình ảnh muối chống lại mọi thứ tinh thần phân lập (separatism) kiểu Pharisêu và gợi đến dụ ngôn men vui trong bột (13,23). Kitô hữu không những là người của những người khác, mà còn được gọi sống với những người khác, theo chiều hướng của Đức Kitô (bạn của người tội lỗi và thu thuế: 11,19).
2. Hình ảnh của ánh sáng đi song song với hình ảnh muối, vì ánh sáng cũng ảnh hưởng trên cuộc sống của con người. Không có ánh sáng, thì không thể có sự sống; mọi sự chìm vào trong bóng tối và trở nên hỗn độn (x. St 1,1). Như thế, trách nhiệm của người Kitô hữu là không thể lường được. Nếu sự dữ không lui đi, là vì ánh sáng phải đánh đuổi sự dữ đi lại quá yếu hoặc tệ hại hơn nữa, lại tắt mất rồi!
3. Các môn đệ của Đức Giêsu phải đói khát sự công chính, đói khát lối xử sự công chính (5,6), và đó là mối quan tâm đầu tiên của họ. Cách xử sự này là hình thức căn bản qua đó họ làm chứng về Thiên Chúa Cha. Xuyên qua lối xử sự của họ, các môn đệ phải đưa loài người đến chỗ quan tâm, suy nghĩ và tự hỏi, sao cho cuối cùng loài người cũng hòa với  họ trong việc ca ngợi Thiên Chúa. Vậy các môn đệ phải bắt chước cách xử sự của Chúa Cha. Chỉ như thế thì qua lối sống của họ, bản chất của Chúa Cha mới được mạc khải ra và nhận biết. Nhờ những người sống như là con của Ngài, Thiên Chúa muốn được nhìn nhận như là Cha nhân lành và  lôi kéo càng ngày càng nhiều người đến với Ngài.
4. Các môn đệ Đức Giêsu phải là mộtđiểm quy chiếu và là ánh sáng, làm cho mỗi sự vật xuất hiện ra trong bộ mặt thật của nó và trong giá trị thật của nó. Do đó, họ phải ở vào mộtvị trí dễ thấy. Kitô hữu không được quên và càng không được cắt đứt sự thông truyền các ân ban mình đang có cho kẻ khác. Họ không được chạy lung tung để tìm người theo phe mình. Họ cũng không được rút lui vào tình trạng vô danh hoặc náu mình vào trong đám đông. Chỉ khi họ có thể thấy được, chứ không đi trốn hoặc đi ngụy trang, thì nhờ họ, Thiên Chúa mới có thể được nhận biết như là Cha nhân lành. Chỉ có lòng nhân ái, lòng tốt, tình yêu, tinh thần phục vụ mới có thể trở thành ánh sáng cho người khác.
5. Môn đệ Đức Kitô phải là mộtngọn đèn đặt trên đế để soi chiếu cho mọi người trong nhà. Ở vào vị trí sao cho người ta thấy được mình thì hoàn toàn khác với việc tìm cách khoe mình (x. 6,1-18) vì những động lực khác. Chúng ta phải cho thấy các việc tốt đã làm không phải để được người ta khen ngợi (6,2), nhưng để cho nhờ ta trung thành sống bản tính con Thiên Chúa trước mắt người khác, Thiên Chúa được khen ngợi (5,16).
Lm FX Vũ Phan Long, ofm

Tại sao muối lại đi cặp với ánh sáng ?”


a05vs 1 “Muối mất mặn là muối nào ?”
“Anh em là muối của đất. Anh em là ánh sáng của trần gian”. Chắc Chúa cũng có một liên kết nào đó khi đưa cặp muối và ánh sáng này đi đôi với nhau. Chúng ta cũng thường nghe cặp đôi : “muối và men,” nhưng tìm khắp 4 cuốn Phúc Âm chẳng thấy có cặp này, mà chỉ thấy men đi riêng, còn muối thì đi cặp kè với ánh sáng. Vậy muối này là muối nào ? Nếu muối đi với men, ta thấy được liên kết giữa đôi bạn này là liên quan tới thực phẩm, muối là gia vị của đồ ăn, men làm đồ uống có hương nồng, hoặc men đưa thực phẩm biến thành món ăn đặc biệt.  Tóm là, cả hai liên quan tới ẩm thực, và chắc ta cũng nghe giảng rất nhiều, nếu không nói là gần trăm phần trăm về muối liên quan tới thực phẩm : muối là gia vị, và muối bảo tồn đồ ăn không hư. Giảng về muối thực phẩm tương đối dễ. Nhưng hôm nay Chúa có ý nói về muối thực phẩm không ? Nếu có, thì sẽ có 2 thắc mắc :
-Ta có bao giờ thấy muối thực phẩm ra nhạt chưa, và thấy người ta đổ muối này ra ngoài đường cho người ta chà đạp dưới chân chưa ?
-Tại sao muối lại đi cặp đôi với ánh sáng, nếu chúng không liên quan gì đến nhau nhiều ?
1. Có thấy muối lạt chưa.
Bản thân tôi chưa thấy, chỉ thấy muối tan ra, nhưng tan ra, nó vẫn mặn, mặn đắng luôn. Còn muối để ngoài trời, hoà trộn với nước mưa tan thành nước, đâu còn là muối hột nữa, đâu thể vất ra ngoài đường cho người ta chà đạp dưới chân. Vậy chắc phải có một thứ muối ra nhạt, hoặc chơi chữ 3 “m” : “muối mất mặn.” Chúng ta tìm cho ra thứ muối này, và khi tìm ra được thứ muối này, ta giải được thắc mắc thứ hai, tại sao lại cắp đôi muối với ánh sáng.
2. Cặp đôi muối và ánh sáng
Nhắc tới ánh sáng là nhắc tới lửa. Thời Chúa Giêsu làm gì đã có dầu lửa, thời Chúa làm gì đã có bóng đèn (điện). Vậy là, lửa cho sức nóng nhưng lửa cũng cho ánh sáng. Khi nhắc đến ánh sáng do lửa, ta hơi nhận ra cặp đôi “muối và ánh sáng” mà Chúa muốn cho chúng đi với nhau như cặp bài trùng !
Chúa Giêsu phán : nếu muối mất mặn thì chỉ đáng quăng ra ngoài và bị người ta chà đạp. Trong tác phẩm “Chúa Giêsu của Palestine” Bishop kể lại một lời giải thích của cô Newton : tại Palestine bếp lò thường ở ngoài trời và làm bằng đá trên nền (đế) bằng ngói. Trong các lò lộ thiên như vậy muốn giữ sức nóng người ta đổ một lớp muối dày ở dưới nền ngói. Sau một thời gian, muối mất mặn, người ta lật những miếng ngói lên, lấy muối ra, đổ trên đường ngoài cửa lò. Nó đã mất năng lực làm cho tấm ngói nóng lên, nên bị quăng ra ngoài cho người ta chà đạp dưới chân. Chúng ta tìm thêm cứ liệu :
Cách đây hơn 60 năm một nhà xã hội học Thuỵ Sĩ nghiên cứu về phong tục thì thấy từ Biển Chết, người dân lấy ra một thứ muối gọi là muối lò, muối để đốt, giàu chất clorua manhêsium. Ta đã thấy có liên kết giữa muối và lửa tức ánh sáng. Khi dùng xong, muối lò trở thành nhạt, muối mất mặn, chỉ còn việc đổ ra đường cho người ta dày đạp dưới chân, y như khí đá sau khi ủ trái cây, mất hết sức nóng, cũng chỉ còn cách đổ ra đường cho người ta chà đạp dưới đất.
Do đó ta mới phần nào hiểu được câu trong Mc 9,49-50 : “Quả thật, ai nấy sẽ được luyện bằng lửa như thể ướp bằng muối.” Cha Thuấn dịch: “hết thảy sẽ được muối bằng lửa.”  dịch sát sẽ là : “muối để được đốt cháy”
Muối này là chất xúc tác làm cho lửa mau bắt, đỡ tốn củi. Có đại lễ người ta giết và thiêu 12 bò mộng một lúc, củi đâu cho xuể, cần có muối cho đỡ tốn củi. Sách Edêkien 43,24 ghi : “Phải rắc muối lên mới thiêu chúng.” Còn sách Xuất Hành 30,35 nói : “Ngươi sẽ lấy các thứ hương chất đó chế thành hương để đốt : hợp chất các hương này sẽ là sản phẩm của thợ làm hương ; hương đó sẽ là hương pha muối, nguyên chất, và là hương thánh.”
Vậy là muốn trở thành ánh sáng bền lâu, tức lửa không vội tắt, cần cho thêm muối vào lò. Muối làm cho lửa củi cháy lâu. Và muối này phải mặn, chứ khi đã thiêu trong lò, muối mất mặn, tuy vẫn còn dạng hột đó, nhưng chất mặn đã không còn.
Có một điều đáng lưu ý nữa là đôi khi Hội Thánh tiên khởi áp dụng câu này cách rất lạ. Trong hội đường, người Do Thái có một tục lệ : nếu một người Do Thái bỏ đạo, nhưng rồi lại trở về với đức tin, trước khi được thâu nhận lại, người ấy phải ăn năn bằng cách nằm ngang cửa hội đường và mời gọi mọi người bước lên mình mà vào. Ở một số nơi, Hội Thánh cũng nương theo tục lệ đó. Một Kitô hữu bị đuổi khỏi Hội Thánh vì kỷ luật, trước khi được thâu nhận lại, buộc phải nằm trước cửa nhà thờ và mời người bước vào :"Hãy dẵm lên tôi là muối mất mặn".
Cách đây ít lâu, trong một cuộc hội thảo của giới trẻ về đề tài "Truyền giáo năm 2000," nhiều bạn trẻ đề nghị phải sử dụng tối đa các phương tiện truyền thông tân tiến trong những năm cuối cùng của thế kỷ 20, gồm sách vở báo chí, phim ảnh, cả internet nữa, có phẩm chất và hấp dẫn, để rao giảng Tin Mừng cho mọi tầng lớp và mọi lứa tuổi. Một số bạn trẻ khác nhấn mạnh đến công tác xã hội và bác ái. Một số khác nữa đi xa hơn bằng cách đề nghị Giáo Hội chống lại những bất công xã hội, những chà đạp quyền con người, để xây dựng công lý và hòa hợp.
Trong lúc mọi người đang hăng hái đưa ra những chương trình to lớn và đề nghị những hoạt động vĩ đại, thì một thiếu nữ da màu giơ tay xin phát biểu: "Tại Phi Châu nghèo nàn và chậm tiến của chúng tôi, chúng tôi không gửi, hay đúng hơn không  có khả năng gửi đến những làng chúng tôi muốn truyền giáo những sách vở, báo chí, phim ảnh, máy vi tính… kết mạng, nối phône… Chúng tôi chỉ gửi đến đó một gia đình tốt, để dân làng thấy thế nào là đời sống Kitô giáo.
Một gia đình tốt tức là những con người tốt. Con người là ngọn lửa sáng và sáng lâu nhờ muối lò vẫn còn mặn. Anh em là muối mặn, anh em là ánh sáng, chứ không phải phim ảnh là ánh sáng, sách vở là ánh sáng.
Sáng ngày 1-2-2014 tại Đại thính đường Phaolô 6 dành cho 8 ngàn thành viên Con đường Tân Dự Tòng, Đức Thánh Cha Phanxicô đã gửi 414 gia đình thuộc Con đường Tân Dự Tòng đi truyền giáo tại nhiều nước trên thế giới. Trong đó có 174 gia đình sẽ thuộc 40 cứ điểm mới truyền giáo cho dân ngoại, như ở Trung Quốc, Ấn Độ, Việt Nam, Mông Cổ, Đông Âu và Bắc Âu, thêm vào số 52 cứ điểm đã hiện hữu. Trong buổi tiếp kiến còn có 900 người con của tất cả các gia đình hiện diện. Ngoài ra cũng có hơn 100 gia đình đã đi truyền giáo ở nhiều nơi trên thế giới.
Phần lớn các gia đình được ĐTC sai đi hôm 1-2-2014 là người Tây Ban Nha và Italia. Mỗi cứ điểm truyền giáo gồm 4 gia đình, một LM và 1 phụ tá tháp tùng, thường là một giáo dân hoặc một chủng sinh, một nữ tu cao niên và 3 chị trẻ cộng tác vào sứ vụ truyền giáo cho dân ngoại.
Giáo Hội Việt Nam lấy năm 2014 là Năm Tân Phúc Âm Hoá Đời Sống Gia Đình. Ta không cần gửi gia đình đi truyền giáo đâu xa, mà mỗi gia đình là ánh sáng do lửa nhiệt tình nung đốt, nhờ muối mặn làm cho ngọn lửa cháy lâu, tức nhiệt tình truyền giáo bền vững, không nản lòng, thì sẽ (tân) phúc âm hoá được những người lương dân bên cạnh vậy.
tiểu tử An Phong

Thứ bậc các giá trị theo Đức Giêsu (Mt 5,17-37 - CN VI Tn _A)

 

menchua1.- Ngữ cảnh
            Chúng ta đang ở trong Bài Giảng trên núi (Bài diễn từ thứ nhất của Tin MừngMt). Hôm nay, chúng ta đi vào Phân đoạn chính, có thể gọi bằng nhan đề “Sự công chính của Nước Trời hay là Sống như con cái của Chúa Cha” (5,17–7,12). Riêng bản văn được đọc hôm nay (5,17-37) thuộc về phần đầu của phân đoạn này, mộtphân đoạn được các nhà chú giải mệnh danh là “Đức công chính dồi dào” (5,20-48). Bản văn nói đến bốn cặp đối nghĩa ( trong số sáu cặp đối nghĩa: 5,20-48). 
            Phần này như đang ngầm trả lời một số câu hỏi: Những việc tốt nào phải rạng sáng lên nơi các môn đệ Đức Giêsu? Qua những việc tốt lành này, cách thức hiện hữu nào của  Cha trên trời được người ta biết đến?

2.- Bố cục
Bản văn có thể chia thành hai phần:
1) Đức Giêsu mạc khải ý muốn của Thiên Chúa (5,17-20);
2) Đức Giêsu dạy về cách cư xử với người thân cận (5,21-48)
a) Các hành động trực tiếp làm cho người thân cận (5,21-37):
- các xung đột với người thân cận (5,21-26),
- cách cư xử đối với phụ nữ (5,27-32),
- tương quan với sự thật (5,33-37),
b) Các phản ứng trước cách cư xử của người khác (5,38-48).
Bản văn dùng trong Phụng vụ hôm nay không đọc đoạn 2.b).

3.- Vài điểm chú giải
- Luật Môsê hoặc lời các ngôn sứ (17): Đây là cách người Do Thái gọi bộ Kinh Thánh của họ (tức Cựu Ước theo quan điểm Kitô giáo). Xem 7,12; 11,13; 22,40.
- kiện toàn (17): Khi nói về mộtlời nói hay mộtlời loan báo, plêroô có nghĩa là “hiện tại hóa”; khi nói về mộtlệnh truyền, plêroô có nghĩa là “thi hành”. Mt dùng động từ này (plêroô plêrôsai) 16 lần, mà có 12 lần là để đưa vào các câu trích Kinh Thánh.  Các đoạn văn Kinh Thánh ấy được coi như được hiện tại hóa trong biến cố Giêsu, vì biến cố này vén mở cho thấy mộtý nghĩa mới của bản văn. Đức Giêsu khẳng định rằng Người hoàn tất Kinh Thánh, có nghĩa là Người đưa Kinh Thánh dến chỗ hoàn chỉnh, đạt ý nghĩa trọn vẹn. Người thực hiện Kinh Thánh không phải bằng cách “thi hành” những khoản luật sát mặt chữ, nhưng bằng cách vượt quá Kinh Thánh, đưa lại cho Kinh Thánh mộtý nghĩa mới (x. cc. 20-48). Như thế, câu 17 khẳng định có sự tiếp nối sâu xa từ Cựu Ước sang Tân Ước, đồng thời cho thấy Tân Ước vượt quá những giới hạn và những bất toàn của Cựu Ước.
- một chấm một phết (18): dịch sát là “không mộtchữ i hoặc mộtcái sừng”, tức là con chữ yod trong bảng chữ cái Híp-ri. Đây là con chữ nhỏ nhất.
ai bỏ … ai dạy … ai tuân hành (19): Câu này khiến ta có thể giả thiết là trong Hội Thánh sơ khai có nhiều khuynh hướng hoặc phong trào thiêng liêng liên hệ đến việc tuân giữ Luật mới.
- không ăn ở công chính hơn các kinh sư (20): dịch sát là “sự công chính của anh em không dồi dào/vượt (perisseuein) hơn (pleion, “more”) các kinh sư.
- ngoại trừ trường hợp hôn nhân bất hợp pháp (32): “ngoại trừ trường hợp porneia” (x. 19,9). Có hai cách giải thích từ porneia này: (1) Đây là những nố hôn nhân bất hợp pháp, chẳng hạn do họ máu, mà Luật Môsê cấm (Lv 18,6-18). Các kinh sư gọi các hôn nhân này là zơnouth, Bản LXX dịch là porneia. Bởi vì các hôn nhân loại này không thành pháp, nên hai người phối ngẫu phải rời xa nhau. Đây là cách giải thích của giới Công giáo. Nhưng có những tác giả cho rằng có thể áp dụng nghĩa ấy cho Cv 15,20, chứ ở trong Mt thì không có gì chắc chắn cả. (2) Hiểu porneia theo nghĩa thông thường là sự hư đốn về tính dục, tức ngoại tình (moikeia). Đây là cách giải thích của Tin Lành và Chính Thống, và mộtsố tác giả Công giáo.

4.- Ý nghĩa của bản văn
Đức Giêsu mạc khải ý muốn của Thiên Chúa (17-20)
Trong Cựu Ước, Thiên Chúa cho biết ý muốn của Ngài qua Luật và các ngôn sứ: những gì chính Ngài muốn thực hiện (sấm ngôn và lời hứa: x. 11,13) và những gì loài người phải làm (Luật). Đức Giêsu tuyên bố rằng ý nghĩa của việc Người ngự đến, của tư cách của Người là Đấng được Thiên Chúa cử đến, là đưa Luật và các ngôn sứ, mạc khải về ý muốn của Thiên Chúa, đến chỗ hoàn tất. Không có gì trong Luật và các ngôn sứ lại bị triệt tiêu và loại bỏ, mà cũng chẳng phải chỉ được xác nhận trong hình thức cũ. Đức Giêsu đưa đến sự hoàn tất; nơi Người, Thiên Chúa thực hiện lời Ngài đã hứa (x. 1 ,22t; 2,15…). Như thế, Đức Giêsu chính là Nhà Lâp pháp đích thật mà Thiên Chúa đã cử đến cho loài người mọi thời; so với Người, Môsê chỉ là người tiền hô thôi. Qua Người, Thiên Chúa cho thấy cách vĩnh viễn họ phải sống như thế nào. Lề Luật chưa được kiện toàn không phải vì nó không diễn tả ý muốn của Thiên Chúa, nhưng vì diễn tả cách bất toàn hoặc cách không thích đáng.
Điều Ngài đã yêu cầu qua Luật và các ngôn sứ được gom lại thành điều này: “Tất cả những gì anh em muốn người ta làm cho mình, thì chính anh em cũng hãy làm cho người ta” (7,12), và có thể được tóm lại trong điều răn yêu mên Thiên Chúa và yêu thương người thân cận (22,37-40). Đức Giêsu nêu bật rằng, trước mọi sự, Thiên Chúa muốn lòng từ bi thương xót (9,13; 12,7). Với các “cặp đối nghĩa” (5,21-48),  câu “Còn Thầy, Thầy bảo anh em” được nhắc lại 6 lần (5,22.28.32.34.39.41), qua đó Đức Giêsu nói với uy quyền của Thiên Chúa, để giải thích đâu là lối cư xử phù hợp với ý muốn của Thiên Chúa. Ngài muốn họ phải sống mộtsự công chính “dồi dào” hơn các kinh sư và người Pharisêu (5,20).
Vì Đức Giêsu là Đấng truyền đạt vĩnh viễn ý muốn của Chúa Cha, ta không thể không cần đến Người. Cuộc sống cá nhân phải hình thành từ các giáo huấn của Người. Ta thuộc về Nước Trời hay không là tùy ta tuân giữ sự công chính Người đã dạy hay không. 
* Đức Giêsu dạy về cách cư xử với người thân cận (21-37)
Trong các giáo huấn, Đức Giêsu quan tâm đặc biệt tới ba đề tài: các xung đột với người thân cận, cách cư xử đối với phụ nữ, tương quan với sự thật. Cứ mỗi lần, Người lại đặt giáo huấn của Người đối lập với giáo huấn của Cựu Ước. Các luận điểm Người đưa ra phải được hiểu như làm mẫu, chứ không phải là những trình bày rốt ráo về các đề tài. 
Đoạn 5,21-26 liên hệ đến việc thắng vượt các xung đột. Chỉ đến c. 26, ta mới biết đây là thứ xung đột gì: mộtchủ nợ không kiên nhẫn được nữa, đã muốn đưa con nợ ra tòa để ép người ấy trả nợ. Loại xung đột này là điển hình cho mọi thứ căng thẳng và cho các lối xử sự phát xuất từ đó. Theo cách triệt để nhất, người ta giải quyết mộtxung đột bằng cách loại trừ người kia. Cựu Ước đã kết án cách xử sự này bằng lệnh cấm: “Không được giết người”. Cách giải quyết xung đột kiểu này là sai; để chứng tỏ như thế, luật pháp đã quy định hình phạt xử tử. Nhưng có những hình thức xử sự khác khi có xung đột: nổi giận, thù hằn sâu sắc và sỉ nhục, tấn công hay đả thương bằng lời nói. Đức Giêsu kết án cả các kiểu cư xử này. Phải tránh không những hành vi xấu xa, mà cả sự xấu xa trong tim và những lời nói xấu xa. Đừng để xung đột đẩy tình yêu ra khỏi con tim, đầu độc con tim, hoặc đưa đến chỗ đầu độc cộng đoàn bằng những lời độc địa. Đức Giêsu nhắc đến các tòa án để cảnh giác; Người nhắc theo thứ tự tăng dần: từ tòa án địa phương, đến tòa án cao nhất ở trần gian (Thượng Hội Đồng), và cuối cùng là tòa án của Thiên Chúa. Ở đây Đức Giêsu không hề muốn công bố mộtquy định pháp lý phải theo sát mặt chữ: trong trường hợp nổi giận thì phải theo cách này mà tính; trong trường hợp chửi bới thì phải theo cách kia… Người muốn nói rằng sự thiếu sót đối với người thân cận và giải pháp sai lầm người ta lấy trong các xung đột không chỉ bắt đầu với việc giết người, nhưng bắt đầu trước đó. Người muốn nói người ta phải ra sức tránh không những hành vi xấu xa, mà cả trái tim xấu xa và lời nói xấu xa. Người cũng muốn nói rằng các xung đột và căng thẳng không làm suy yếu tình yêu đối với người thân cận ở bất cứ mức độ nào và bất cứ cách nào.
Phải chứng tỏ tình yêu này không những trong việc ngăn cản sự dữ, mà còn trong việc tích cực tìm hòa giải. Người vừa nói đến việc tránh để cho các xung đột kịch phát. Bây giờ bằng các ví dụ (5,23-25), Đức Giêsu trình bày hình thức tích cực nên theo để vượt qua các xung độ, đó là sự hòa giải, và Người nêu bật ý nghĩa của việc hòa giải. Để hòa giải, Người nói thậm chí phải ngưng dâng lễ vật, điều này cho thấy tầm quan trọng, tính ưu tiên của việc hòa giải. Nếu người ta phải nhắm hòa giải cho được trong khi đi đường tiến về tòa án, điều này cho thấy hòa giải là chuyện cấp bách và cần thiết, và bõ công để người ta ra sức đạt cho được. Tiến trình mà Đức Giêsu đề nghị để thắng vượt các xung đột là tiến trình của tình yêu và hòa giải. Dĩ  nhiên, để hòa giải được, cần phải có hai hoặc nhiều người, và không phải chỉ cần mộtbên đồng ý là được: nó giả thiết có sự sẵn sàng của cả bên kia. Mỗi bên phải ra sức làm tối đa để đạt được sự hòa giải. Phần nói về đức công chính mới chính là mộttiếng gọi duy nhất thúc bách người ta đi tới hòa giải và tình bằng hữu với người thân cận. 
Đoạn văn tiếp theo nói đến cách cư xử đối với phụ nữ, đối với vợ người khác (cc. 27-30) và với vợ của mình (cc. 31-32). Quyền lực chung quyết trong lãnh vực này không thể nào lại là những sức mạnh tự nhiên và bộc phát của ham muốn và khoái lạc tính dục. Cựu Ước đã đặt ra mộtgiới hạn rõ ràng cho các sức mạnh này, khi cấm ngoại tình. Theo Lv20,10, tội ngoại tình sẽ bị xử tử. Cùng với sự sống của người thân cận, người ta cũng phải tôn trọng vô điều kiện sự hiệp thông sự sống người đó có với vợ họ. Và cũng như đối với sự sống của người thân cận, ở đây Đức Giêsu cũng đặt mộtgiới hạn thật ra đã có từ trước và yêu cầu mộtsự tôn trọng sâu xa hơn nữa. Sự tôn trọng này phải có không những trong hành động mà cả trong ước muốn. Đức Giêsu cũng đang xác định mộtthứ bậc rõ ràng các giá trị. Nếu trước đây, Người đã nói rõ là sự giận dữ, chua cay, lời nói thâm độc… phải luôn luôn nhường bước cho sự hòa giải và hiệp thông huynh đệ với người thân cận, thì bây giờ Người tuyên bố rằng không những thú vui tính dục, mà cả các ước muốn tính dục cũng cần được chế ngự, nghĩa là vùng hiệp thông sự sống của người khác không được vi phạm bất cứ cách nào.
Lời khuyến khích thà móc mắt phải và chặt tay phải cho thấy giá trị này quan trọng đến đâu. Dĩ nhiên, không được hiểu các lời này sát mặt chữ: bởi vì không phải là con mắt phạm tội, nhưng là con người với ý ngông và ý chí của mình! Đức Giêsu muốn nói rằng chúng ta không được bỏ mặc các giác quan của chúng ta cho chúng, nhưng phải hướng dẫn cách sử dụng chúng cho có trách nhiệm. Người cho thấy rằng bảo vệ được các giá trị ấy không phải là chuyện dễ, có khi phải chấp nhận những can thiệp sâu xa và từ bỏ đau đớn. Nhưng điều này rất quan trọng: chỉ khi ta tôn trọng sự hiệp thông sự sống của người khác, Thiên Chúa mới nhìn nhận chúng ta trong ngày phán xét.
Liên hệ đến cách cư xử với vợ người khác và tôn trọng sự hiệp thông sự sống của người khác, có việc cư xử đối với vợ của chính mình và đối với sự hiệp thông sự sống với vợ mình. Trong Cựu Ước, có quy định là người ta có thể ly dị vợ, nhưng phải có chứng thư ly dị, để chứng tỏ rằng người phụ nữ đã có mộttư cách dân sự mới, không còn là người kết hôn nữa. Ở đây Đức Giêsu cũng xác định một thứ bậc mới cho các giá trị. Sự hiệp thông sự sống với vợ mình là mộtđiều thiện hảo không thể chuyển nhượng; người chồng phải bảo vệ, duy trì và vun đắp sự hiệp thông ấy. Người chồng không được rẫy vợ mình: tương ứng với sự tôn trọng tuyệt đối sự hiệp thông sự sống của người khác là sự bảo vể tuyệt đối sự hiệp thông sự sống với vợ mình. Dưới ánh sáng của lệnh cấm rõ ràng không được ly dị do Đức Giêsu công bố theo Mc 10,11t; Lc 16,18; 1 Cr 7,10t, câu thêm “ngoại trừ trường hợp hôn nhân bất hợp pháp” không thể hiểu là mộtngoại lệ. Đức Giêsu không muốn nói: anh em không được rẫy vợ anh em trong bất cứ trường hợp nào, ngoại trừ trong trường hợp ngoại tình. Chữ “hôn nhân bất hợp pháp” ở đây rất có thể có nghĩa là những dây hôn bất hợp pháp do mộtquan hệ họ hàng rất gần (Lv 18,6-18; x. Cv 15,29; 1 Cr 5,1). Giải gỡ những dây liên kết này không phải là vi phạm lệnh cấm ly dị.
Đề tài thứ ba liên hệ đến sự thật (5,33-37). Trong lãnh vực này, vấn đề phát sinh do sự kiện là mỗi người lệ thuộc những khẳng định của người thân cận, và đồng thời, chúng ta là những con người, chúng ta không trong suốt với nhau. Cá nhân không thể tự mình biết tất cả những gì là quan trọng đối với mình hoặc biết bằng sức riêng của mình; người ấy lệ thuộc những khẳng định và lời hứa của người thân cận. Tuy nhiên những khẳng định này có thể không tương hợp với các sự kiện và khác nhau trong vô vàn sắc thái. Lời nói và mọi hình thái truyền thông có thể được sử dụng không những để truyền tải sự thật, mà còn để lừa dối. Sự thiệt hại cho người thân cận do những lời dối trá, lừa đảo và không giữ lời hứa là không thể tiên liệu và trầm trọng. Để ngăn chặn được thiệt hại này, người ta thề. Nhưng bởi vì ở đây cũng lại có thể phát sinh vấn đề dối trá, mới có lệnh cấm nghiêm khắc không được thề gian. Qua việc thề, người ta muốn diễn tả là chính Thiên Chúa, là Đấng tuyệt đối chân thật và chắc chắn không lừa dối,c ó thể làm chứng cho sự thật của lời khẳng định của chúng ta hoặc sự khả tín của lời chúng ta hứa; do đó người ta có thể tín nhiệm. Đồng thời ai nại dến Thiên Chúa để làm chứng cách dối trá, thì bị phạt. Việc nại đến Thiên Chúa phải khiến người ta nói sự thật và điều này khiến ta có thể tin tưởng những ai lệ thuộc những khẳng định này.
Ngược lại, Đức Giêsu bảo “hễ "có" thì phải nói "có", "không" thì phải nói "không"” (x. Gc5,12) ; Người yêu cầu mộtdây liên kết vững bền và trực tiếp với  sự thật, không cần nại đến bất cứ hình thái lời thề nào. Thiên Chúa không có việc gì mà phải đóng vai làm chứng và càng không đóng vai người hù dọa kẻ khác bằng hình phạt. Thiên Chúa, Đấng tuyệt đối chân thật và tuyệt đối xứng đáng với niềm tin của ta, tỏ mình ra như là điển hình cho chúng ta (x. 5,48). Nơi chúng ta, không được có sự khác biệt giữa những gì đang có trong thâm tâm ta dưới dạng kiến thức, ý kiến, ý hướng… và những gì chúng ta tỏ ra bên ngoài. Như thế ta công nhận sự thật, và người thân cận tránh khỏi thiệt hại.

+ Kết luận
            Bằng uy quyền đầy đủ của Người, Đức Giêsu không áp đặt những luật võ đoán, nhưng cho thấy mộtthứ bậc mới các giá trị. Mỗi khuynh hướng ích kỷ duới dạng hiềm khích hoặc không chấp nhận giao hòa, dạng các ước muốn tính dục, tìm kiếm lợi lộc cá nhân qua việc lừa dối, đều phải biến mất. Mỗi cung cách xử sự phải phục vụ tình huynh đệ với người thân cận, phục vự sự hiệp thông sự sống, quan tâm bảo vệ sự thật. Một cung cách xử sự như thế coi người thân cận là anh em và chị em và thật sự đưa họ về với Cha chung.

5.- Gợi ý suy niệm
1. Đọc bản văn này, chúng ta nhận ra Đức Giêsu khẳng định tư cách tối cao của Người, Người là Thiên Chúa. Người có quyền trên “Luật dạy người xưa”, tức chính Cựu Ước, bởi vì Luật đó là bản văn Thiên Chúa dùng trung gian con người mà viết ra, còn Đức Giêsu  là Con Thiên Chúa, là Ngôi Lời, trực tiếp đến dạy dỗ loài người. Chúng ta có thực sự sẵn sàng đón tiếp Người chăng?
2. Những gì Đức Giêsu đã nói không được hiểu như là mộtdanh mục đầy đủ các quy định, càng không phải là một luật phải theo sát mặt chữ. Chẳng hạn, Người chỉ nói đến cách cư xử của phái nam đối với phái nữ, chứ không nói đến cách cư xử của phái nữ đối với phái nam; điều này không có nghĩa là phái nữ không có thiếu sót gì trong lãnh vực này. Người không muốn nói rằng ta chỉ phải tránh những kiểu cư xử đã được nhắc đến minh nhiên. Người đã nêu đặc tính của mộtthái độ tổng quát, và ta phải dựa theo đó mà cư xử trong lãnh vực liên hệ.
3. Đức Giêsu đặc biệt giáo huấn về ba lãnh vực: các xung đột giữa anh em, cách cư xử với phụ nữ và tôn trọng sự thật. Chúng ta được mời gọi xét lại cách chúng ta sống dưới ánh sáng của ba giáo huấn này. Thiếu tôn trọng các nguyên tắc của ba lãnh vực này, con người vừa thiếu kính trọng đối với Thiên Chúa vừa thiếu kính trọng đối với anh chị em mình. Nếu chúng ta sống giáo huấn của Đức Giêsu, chúng ta giữ được “Luật và các ngôn sứ”, tức là giữ được nòng cốt giáo huấn của Kinh Thánh.
4. Đây là mộtđòi hỏi của Đức Giêsu với các môn đệ: Họ phải có mộtlối sống “dồi dào hơn” sự công chính của giới kinh sư và Pharisêu. Đây là mộtsự trổi vượt về “lượng”: các môn đệ phải “làm hơn”. Nhưng “hơn” đây là đi xa hơn trong việc tuân giữ cốt lõi của Luật (x. cc. 38-48: điều răn yêu thương). Đây cũng là một sự trổi vượt về “phẩm”: các môn đệ không hoàn tất Luật theo cách vị luật, nhưng bằng con tim (Mt 23,25-28; x. 5,27-28), như những người con của Cha trên trời (5,45-48).
Lm FX Vũ Phan Long, ofm

Tiếp Kiến Chung Với Đức Thánh Cha.

 Giá Trị Cao Quý Của Bí Tích Thánh Thể


bí tích thánh thểVATICAN. Hôm thứ tư 12.2, trong buổi tiếp kiến chung các khách hành hương, Đức Thánh Cha tiếp tục chia sẻ trong bài giáo lý của mình về bí tích Thánh Thể, đặc biệt, ngài chia sẻ về việc chúng ta sống bí tích Thánh Thể trong đời sống hàng ngày của chúng ta, xét như là Giáo Hội và như là cá nhân các Kitô hữu.
Ngài chia sẻ rằng bí tích Thánh Thể ảnh hưởng đến cái nhìn chúng ta có về người khác. Trong suốt cuộc đời, Đức Kitô đã diễn tả tình yêu của mình bằng cách ở với con người, chia sẻ với họ những khát vọng và khó khăn. Bí tích Thánh Thể cũng mang chúng ta đến với người khác, giúp chúng ta nhìn họ như là những anh chị em và thấy được khuôn mặt Đức Kitô trong họ. Ngài đặt ra một số câu hỏi giúp các tín hữu suy nghĩ:
“… Thế nhưng bí tích Thánh Thể mà tôi cử hành, có mang tôi đến việc cảm nhận người khác như là những anh chị em của mình không? Có làm cho tôi lớn lên trong khả năng vui với người vui, khóc với người khóc không? Có thúc đẩy tôi đến với người nghèo, bệnh nhân, người bị gạt ra bên lề xã hội không? Có giúp tôi nhận ra nơi người khác khuôn mặt của Đức Giêsu không?”
Điểm thứ hai mà Đức Thánh Cha nói đến là, nơi bí tích Thánh Thể, chúng ta cảm nghiệm được sự tha thứ của Thiên Chúa và lời mời gọi tha thứ. Chúng ta cử hành bí tích Thánh Thể không phải vì chúng ta xứng đáng nhưng vì chúng ta thấy mình cần phải lãnh nhận lòng thương xót của Thiên Chúa, nơi Đức Kitô. Ngài nói:
Việc thú tội mà chúng ta thực hiện ở đầu Thánh Lễ không phải chỉ là công thức, nhưng đích thực là một hành vi sám hối! Chúng ta phải nhớ rằng Bữa Tiệc Ly của Đức Giêsu diễn ra vào ‘đêm Người bị phản bội’ (1Cr 11,23) Chính bánh và rượu trở thành Mình và Máu Thánh Đức Kitô một lần nữa tẩy sạch chúng ta khỏi tội lỗi, đồng thời mở rộng con tim chúng ta ra để có thể tha thứ cho anh chị em và đi đến sự hòa giải.
Cuối cùng, khi cử hành bí tích Thánh Thể, xét như là cộng đoàn Kitô hữu, chúng ta được nuôi dưỡng bởi Lời và Cuộc Sống của Đức Kitô. Nơi bí tích Thánh Thể, Giáo Hội nhận lãnh căn tính và sứ mạng của mình. Ngài nói:
Chúng ta phải lưu ý rằng: một buổi cử hành có thể thành công về phương diện về ngoài, nhưng nếu nó không dẫn đến việc gặp gỡ Đức Giêsu, có chẳng mang đến một sự bổ dưỡng nào cho con tim và cuộc sống của chúng ta. Qua bí tích Thánh Thể, Đức Kitô muốn đi vào trong sự hiện hữu của chúng ta và làm thấm đẫm nó bằng ân sủng của Người, để trong từng cộng đoàn Kitô hữu, luôn có sự nối kết giữa phụng vụ và cuộc sống.”
Ngài kết thúc bài chia sẻ của mình bằng những lời thật thân tình như sau:
Anh chị em thân mến, lòng tôi tràn ngập sự tin tưởng và hy vọng khi nghĩ đến những Lời Đức Giêsu đã nói, được ghi lại trong Tin Mừng thánh Gioan: “Ai ăn thịt và uống máu tôi thì sẽ có sự sống đời đời và tôi sẽ cho người đó sống lại vào ngày sau hết” (Ga 6,54). Chúng ta hãy sống bí tích Thánh Thể với tinh thần cầu nguyện, với niềm tin chắc chắn rằng Thiên Chúa sẽ thực hiện những gì Người đã hứa.

Pr. Lê Hoàng Nam, SJ

Gieo thói quen… gặt số phận


“Gieo thói quen… gặt số phận !”
Bạn thân mến!
Thói quen là những việc làm thường xuyên, lặp đi lặp lại và đôi khi bạn không ý thức được điều đó.
Có những thói quen tốt như tập thể dục điều độ, lên kế hoạch trước khi hành động, tôn trọng người khác… nhưng cũng có những thói quen xấu như nói xấu người khác, suy nghĩ tiêu cực, tự ti… Một vài thói quen khác vô thưởng vô phạt như tắm đêm, ăn trễ, đọc báo ngược từ trang cuối đến trang đầu…
Tùy theo thói quen nào mà nó có thể giúp bạn nên người hoặc hủy hoại bạn. Vào bất cứ lúc nào, bạn hoàn toàn có thể thay đổi thói quen xấu bằng một thói quen khác tốt hơn – nếu bạn muốn.
Bạn hãy nhớ rằng:
“Gieo suy nghĩ, gặt hành động.
Gieo hành động, gặt thói quen.
Gieo thói quen, gặt tính cách.
Gieo tính cách, gặt số phận.”
(Samuel Smiles)
Gieo thói quen... gặt số phận - dongten (3)
7 thói quen của bạn trẻ thành đạt:
Thói quen 1: Có thái độ sống tích cực. Có trách nhiệm với bản thân
Thói quen 2: Biết định hướng tương lai. Xác định nhiệm vụ và mục tiêucủa mình trong cuộc sống.
Thói quen 3: Việc hôm nay không để ngày mai. Phải biết ưu tiên, điều gì quan trọng thì hãy làm trước.
Thói quen 4: Tư duy cùng thắng. Tập thái độ không mong ai thua cuộc.
Thói quen 5: Biết lắng nghe để thấu hiểu và để được thấu hiểu. Phải biếtlắng nghe một cách chân thành.
Thói quen 6: Có tinh thần hợp tác. Hợp lực làm việc để đạt hiệu quả cao nhất.
Thói quen 7: Biết rèn luyện và phát triển những kỹ năng. Hãy học hỏi để bản thân mình luôn hướng về phía trước và mới mẻ.
    Những thói quen này luôn có quan hệ chặt chẽ và hỗ trợ với nhau. Thói quen 1,2,3 là để mỗi người tự rèn luyện mình nên gọi là những thói quen chiến thắng bản thân. Thói quen 4,5,6 là để tạo các mối quan hệ và tính đoàn kết tập thể nên gọi là chiến thắng với cộng đồng. Bạn phải có « kỹ thuật cá nhân » trước đã rồi mới có thể tham gia chơi chung trong một đội mạnh. Cho nên phải rèn luyện bản thân trước khi đạt được chiến thắng tập thể. Thói quen cuối cùng là tự đổi mới. Nó sẽ hỗ trợ cho cả 6 thói quen kia.
Gieo thói quen... gặt số phận - dongten (14)
    Những thói quen này có vẻ đơn giản phải không nào ? Thế nhưng nó tác động đến bạn rất mạnh mẽ đấy. Và khi bạn đã biết 7 thói quen tốt vừa đề cập thì cũng nên thử nghĩ xem những thói quen ngược lại xem chúng là gì ?
  Woman trying to get up in the morning --- Image by © cultura/Corbis
 7 thói quen xấu thường thấy của những bạn trẻ là : 
Thói quen 1 : Thụ động, có thái độ sống tiêu cực.
    Luôn đổ lỗi cho hoàn cảnh hay cho người khác, hoặc tìm lý do này nọ để biện minh cho mình. Không có trách nhiệm với lời hứa của mình và với người khác, hành động theo bản năng hơn là theo lý trí.
Thói quen 2 : Lười suy nghĩ
    Không định ra kế hoạch, né tránh mục đích trong cuộc sống và chẳng bao giờ nghĩ đến tương lai . Họ chẳng phải lo lắng về hậu quả của những hành động của mình. Cuộc đời của họ chỉ là hiện tại thôi, ngày mai như đã là ngày tận thế rồi, tội gì không vui chơi thoả thích, vùi đầu vào các thú vui bất kể hậu quả ra sao.
Thói quen 3 : Nước đến chân mới nhảy
    Dù việc có quan trọng đến đâu đi chăng nữa cũng lần lữa không làm cho xong. Lãng phí phần lớn thời gian vào các trò chơi điện tử, la cà trên mạng, tán gẫu qua điện thoại, bàn luận phù phiếm và lang thang rong chơi khắp chốn. Luôn để bài tập về nhà đến ngày mai. Không coi trọng những việc phải làm.
Thói quen 4 : Chỉ nghĩ đến thắng thua.
    Họ nhìn cuộc đời như một cuộc đỏ đen. Bạn mình mà thắng thì có nghĩa là mình thua. Còn nếu có vẻ như mình sắp thua thì cũng phải kéo người khác cùng tuột dốc, chung số phận với mình mới thấy vừa lòng.
Thói quen 5 : Thích nói trước rồi mới nghe sau.
    Họ xem mình chào đời đã có cái miệng, vậy sao không dùng đến nó chứ? Luôn luôn bày tỏ quan điểm của mình trước đã, khi đã chắc rằng mọi người hiểu mình thì mới nghe đến họ, hoặc giả vờ « ừ hử » cho qua chuyện.
Thói quen 6 : Không hợp tác với mọi người.
    Họ xem những người khác kỳ cục vì những người ấy nghĩ khác với mình. Mọi người đoàn kết lại hay chơi với nhau vì họ không muốn giống mình. Nếu ý kiến của mình là tuyệt vời thì việc gì phải hợp tác với ai, làm một mình vẫn sướng hơn chứ sao .
Thói quen 7 : Sống mòn.
    Không quan tâm trau dồi bản thân. Không chịu học hỏi những điều hay và ý tưởng mới. Họ không bao giờ luyện tập thể dục thể thao, tránh xa sách vở.
    Ban thấy đó, « họ » đôi khi chính là chúng ta. Những thói quen và tính cách này thật tồi tệ, nhưng đôi khi ta vẫn nuông chiều những thói quen xấu này, và lúc đó cuộc đời sẽ thật là tệ hại, kinh khủng.
    May mắn thay, con người lại mạnh mẽ hơn thói quen và do đó chúng ta có thể thay đổi được thói quen. Tuy sẽ có những thói quen rất khó thay đổi nhưng không phải là không làm được. Vào bất cứ lúc nào, bạn cũng có thể thay đổi một thói quen xấu bằng một thói quen khác tốt hơn. Tập được những thói quen tốt sẽ giúp ích cho bạn rất nhiều.
Gieo thói quen... gặt số phận - dongten (1)
Quyển sách về 7 thói quen sẽ giúp bạn :
• Kiểm soát được cuộc đời của mình.
• Cải thiện mối quan hệ với bạn bè
• Có những quết định sáng suốt hơn.
• Hoà thuận với cha mẹ
• Vượt qua sự nghiện ngập
• Xác định được giá trị của bản thân và quyết định được điều gì quan trọng nhất đối với bạn 
• Làm được nhiều việc hơn mà lại tốt ít thời gian hơn
• Nâng cao lòng tự tin
• Sống hạnh phúc
• Tìm được sự cân bằng giữa trường lớp, công việc, bạn bè và mọi thứ khác.
Gieo thói quen... gặt số phận - dongten (4)
Nếu bạn cảm thấy những điều trên đây là quan trọng và có ích cho cuộc đời bạn, mời bạn đọc thử bản tóm thói quen thứ nhất…
Chúc bạn thành công!

Thói quen 1: Có thái độ sống tích cực
 Gieo thói quen... gặt số phận - dongten (18)
Hãy luôn đặt mình vào vị trí người khác, nếu điều đó làm tổn thương bạn thì nó cũng sẽ tổn thương người khác. Một lời nói vô ý là một xung đột nguy hiểm, một lời nói nóng giận có thể làm hỏng cả một cuộc đời, một lời nói đúng lúc có thể làm giảm căng thẳng, còn lời nói yêu thương có thể chữa lành vết thương và mang đến sự bình yên…
Có 4 điều chúng ta không thể cứu vãn:
  1. Viên đá… đã ném khỏi tầm tay
  2. Lời nói… đã thốt ra khỏi miệng
  3. Cơ hội… đã đánh mất
  4. Thời gian… đã qua đi
Hãy sống sao để khi nhìn lại ta không thấy hối tiếc điều gì…
Nhận thức của chúng ta thường chưa đầy đủ, thiếu chính xác, hoặc rất lộn xộn. Do đó đừng nên hấp tấp xét đoán, chụp mũ hay có những ý kiến khắt khe về người khác hoặc về bản thân mình. Vì cái nhìn của chúng ta còn hạn chế nên chúng ta hiếm khi nhìn thấy được toàn cảnh của bức tranh thực tế, hoặc không có đầy đủ dữ kiện cho việc phán xét.
Chúng ta biết bò trước khi biết đi… Chúng ta phải thay đổi bản thân trước khi muốn thay đổi người khác. Nếu muốn thay đổi đời mình thì điểm khởi đầu là chính bản thân bạn chứ không phải cha mẹ hay bạn bè, thầy cô.
Mọi sự thay đổi đều bắt đầu từ bạn. Hãy sống có trách nhiệm về đời mình. Bạn nhé!
Gieo thói quen... gặt số phận - dongten (19)
Có loại người trên đời:
Người tích cực, chủ động: là người biết định hướng cho đời mình, biết lo lắng và chịu trách nhiệm về hạnh phúc và bất hạnh của đời mình. Là người biết rằng chính mình chứ không phải cha me, thầy cô, hay bạn bè sẽ là người lái con thuyền đời tôi. Người khác có thể là nguồn trợ giúp, nguồn động viên nhưng không ai có thể thay tôi quyết định, không ai ăn, uống, học hành và sống thay tôi được.
Gieo thói quen... gặt số phận - dongten (13)Người tiêu cực, thụ độnglà người chỉ biết đổ lỗi, và luôn chờ đợi hoàn cảnh xảy đến cho mình. Họ là những người lười biếng và ỷ nại. Họ cũng là người quen nói năng, hành động dựa trên tình cảm bốc đồng, thiếu suy nghĩ trước sau và dường như không đếm xỉa gì đến hậu quả có thể xảy ra cho chính mình và mọi người xung quanh. 
Gieo thói quen... gặt số phận - dongten (8)
(Lược trích từ tập sách “7 thói quen của bạn trẻ thành đạt” của Sean Covey)
Gieo thói quen... gặt số phận - dongten (11)
Lạy Chúa,
xin ban cho con sự điềm tĩnh
để chấp nhận những gì không thể thay đổi,
cho con lòng can đảm để thay đổi những gì con có thể thay đổi,
và sự khôn ngoan để con nhận ra sự khác nhau đó.
-Reinhold Niebuhr
Gieo thói quen... gặt số phận - dongten (21)